Thảo quả cây thuốc quý trong đông y giúp chữa bệnh hiệu quả

Thảo quả cây thuốc quý trong đông y giúp chữa bệnh hiệu quả

1. Đặc điểm của thảo quả

Thảo quả không chỉ là một gia vị trong nhiều món ăn mà còn là một cây thuốc quý, Loại thảo, sống lâu năm, cao chừng 2,5-3m. Thân rễ mọc ngang, có đốt, đường kính chừng 2,5-4cm, giữa có màu trắng nhạt, phía ngoài màu hồng, mùi thơm. Lá mọc so le, có lá có cuống, có lá không cuống, bẹ lá có khía dọc, phiến lá dài 60-70cm, rộng tới 20cm, mặt trên phiến lá màu xanh thẫm, mặt dưới hơi mờ, mép lá nguyên. Cụm hoa bông, mọc từ gốc, dài chừng 13-20cm, hoa màu đỏ nhạt, mỗi bông nhiều quả, khi chín quả màu đỏ nâu, dài 2,5-4cm, rộng 1,5-2cm. Vỏ quả ngoài dầy 5mm, quả chia làm 3 ô, mỗi ô có độ 7-8 hạt rất thơm, có áo hạt hình tháp, ép vào nhau.

2. Tác dụng chữa bệnh của thảo quả

Thảo quả có tác dụng trục hàn, ráo thấp, trừ đờm, ấm bụng, tiêu tích, giúp ăn ngon miệng.

Liều dùng: 3 - 6g, uống độc vị hoặc phối hợp với nhiều loại thuốc sắc uống.

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc thảo quả.

Trị sốt rét: thảo quả nhân 4g, thục phụ tử 10g, sinh khương 3 lát, đại táo 3 quả, sắc uống (Quả phụ thang - Tế sinh phương).

Trị bụng đau, bụng đầy do hàn thấp tích trệ: thảo quả (nướng) 6g, hậu phác, hoắc hương đều 10g, thanh bì, bán hạ, thần khúc đều 6g, cao lương khương 6g, đinh hương, cam thảo đều 4g, sinh khương, đại táo 10g, sắc uống (Thảo quả ẩm - Sổ tay lâm sàng Trung dược).

Trị sốt rét: thảo quả nhân 2g, tán bột, bọc trong miếng gạc, trước khi lên cơn, nhét vào 1 bên lỗ mũi (Sổ tay lâm sàng Trung dược).

Trị tiêu hóa rối loạn do ăn uống, không tiêu, tích thực, gây vùng thượng vị đầy đau: thảo quả (nướng) 6g, thương truật, hậu phác, trần bì, sinh khương đều 10g, cam thảo 4g, đại táo 3 quả, sắc uống (Thảo quả bình vị tán - Sổ tay lâm sàng Trung dược).

Trị miệng hôi: thảo quả giã dập, ngậm nuốt dần(Dược liệu Việt Nam).

Trị sốt rét, tiêu chảy: thảo quả 10g, kha tử 10g, gừng sống 7 lát, táo đen 7 quả, nước 300ml. Sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày (Dược liệu Việt Nam).

* Lưu ý:

Dùng thận trọng đối với chứng âm huyết hư vì tính ôn táo của thuốc dễ làm tổn thương âm huyết.